Thứ Tư, 10 tháng 6, 2009

THUỐC GIA TRUYỀN -TRỊ CÁC BỆNH VỀ DẠ DÀY

Bệnh đau, viêm, loét dạ dày là những chứng bệnh về dạ dày mà lâu nay rất nhiều người mắc phải. Có rất nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan gây ra những bệnh trên, những người mắc phải thường rất đau đớn và gây rất nhiều phiền toái trong sinh hoạt và ăn uống. Không ít những bệnh nhân đã bỏ rất nhiều công sức và tiền bạc để điều trị nhưng không hiệu quả. Bệnh không những không thuyên giảm mà còn nặng hơn hoặc gây ra những tác dụng phụ rất nghiêm trọng.



Vì vậy chúng tôi muốn dành Blog này để mang lại cho nhũng người bi các bệnh về dạ dày 1 phương thuốc gia truyền mà trong gia tộc tôi đã truyền lại từ nhiều đời nay và đã được kiểm chứng qua rất nhiều bệnh nhân đã đến với chúng tôi. Đã có 90% số người được hỏi trả lời bệnh đã khỏi và 10% trả lời bệnh có thuyên giảm. Bên cạnh đó chúng tôi còn mong muốn Blog này mang lại cho những người bệnh kiến thức, cách phòng tránh và cách chữa trị hiệu quả nhất.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bệnh nhân đã đến với chúng tôi, chia sẻ và đóng góp để ngày càng có nhiều bệnh nhân được điều trị triệt để căn bệnh này.

1. CHUYÊN TRỊ: Đau dạ dày, thượng vị, viêm loét hành tá tràng, đầy hơi, bế khí... (Bệnh nhân thường có các triệu trứng như thường đau lâm râm ở vùng thượng vị, có khi đau sốc sang hai bên sườn, ra sau lưng, hay bị nôn oẹ, ợ chua, ợ hơi, ứa nuớc miếng, thường xuyên bị táo bón hoặc đi ngoài phân sống).

2. CÁCH DÙNG THUỐC:
- Mỗi ngày uống thuốc làm 3 lần vào buổi sáng, trưa và tối, uống trước bữa ăn 30 phút.
- Một thang thuốc gồm 3 gói nhỏ dạng bột. Một gói nhỏ chia làm 9 phần, mỗi ngày uống 3 lần. Như vậy 1 thang thuốc sẽ uống trong 9 ngày.

3. CÁCH UỐNG
- Hoà tan phần thuốc đã chia ra với 30ml nước sôi để nguội pha ấm, khuấy tan và uống.
- Uống liên tục (1 thang gồm 3 gói uống liên tục trong 9 ngày).
- Nếu mới đau thì chỉ uống 1 thang (3 gói) là khỏi, đau lâu thì chỉ cần uống thêm 1 hoặc 2 gói của thang thứ 2 là khỏi hẳn.
- Trong quá trình uống thuốc (Khoảng ngày thứ 4 và thứ 5) nếu thấy đau tăng lên hay bị đi ngoài lỏng hoặc nước tiểu đục là triển vọng tốt, bệnh sẽ khỏi.

4.CÁCH KIÊNG (trong thời gian uống thuốc):
- Thịt chó, chanh, ớt, chuối tiêu.
- Luơn, cua, ốc, hến, trạch, cá da trơn.
- Tránh lao động quá sức, căng thẳng đầu óc.

Sau khi uống hết thuốc và khỏi bệnh, nửa tháng sau ăn uống như bình thường!

Giao thuốc đến tận tay người nhận tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyển thuốc qua bưu điện các tỉnh thành còn lại.

Mọi yêu cầu tư vấn xin liên hệ:

Miền Nam
Cô Bích Anh
80/25 Gò Dầu, P.Tân Quý, Q.Tân Phú, tp Hồ Chí Minh.
Mobile: 0985.232036

Miền Bắc:
Anh Hải
Nguyễn Văn Cừ, Long biên, Hà Nội
Mobile: 0902.736679

Email: thuoctridaudaday@gmail.com
Ym! thuoctridaudaday_hn
thuoctridaudaday_tphcm
Website: http://thuocdaday.blogspot.com

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2009

2.500 NGÔN NGỮ TRÊN HÀNH TINH CỦA CHÚNG TA CÓ NGUY CƠ BIẾN MẤT

Theo bản đồ ngôn ngữ mới được UNESCO công bố nhân ngày tiếng mẹ đẻ 21/2, trong số 6.900 ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới, có khoảng 2.500 ngôn ngữ đang bị đe dọa biến mất vĩnh viễn.

Liên tục ba năm liền, UNESCO cho phát hành bản đồ ngôn ngữ thế giới nhằm cung cấp những thông tin cập nhật nhất về các ngôn ngữ trên hành tinh này. Bản đồ đề cập những vấn đề đang được các nhà văn hóa đặt ra:
1. Tại sao ngôn ngữ bị biến mất.
2. Những khu vực nào trên thế giới có nhiều ngôn ngữ bị diệt vong.
3. Làm thế nào để có thể cứu những ngôn ngữ đang trên đường diệt vong.

VanNet

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2009

CUỐN SÁCH "MỘT THẾ KỶ PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH" CỦA ĐHQGHN LÀ CÓ VẤN ĐỀ

Một người quyét rác của ICT thắc mắc nói:
1. Tại sao cuốn sách ”Một thế kỷ phát triển và trưởng thành” chỉ nói đến Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội?
2. Con em bảo trường Đại học Quốc gia Hà Nội có 3 trường nòng cốt. Nhưng Bác Thi lại bảo có hai trường nòng cốt là : “Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội” . Em chẳng biết tin ai, tin con hay tin Bác Thi.
3. Chú Giang bảo tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội là Đai học Đông Dương, em thấy lạ lắm vi bà con đều nghĩ rằng:
- Tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội là Đại học Quốc gia Việt Nam.
- Đại học Đông Dương không phải tiền thân của Đại học Quốc Gia Hà Nội vì Đại hoc Quốc gia Hà Nội là của người Việt Nam, còn Đại học Đông Dương là của người Pháp xây dựng cho 3 nước Đông Dương.
4. Người ta bảo cuốn sách “Một thế kỷ phát triển và trưởng thành” trình bầy không trung thực với lịch sử văn hóa giáo dục ở Việt Nam. Lúc đọc sách em thấy đúng là sách có vấn đề

Xin thông báo để các vị tham gia ý kiến về cuốn sách của hai học giả được nước Pháp khen thưởng.

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2009

ĐỌC SÁCH “NỮ TIẾN SĨ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI" ĐAU LÒNG TỪ NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY

Trang chủ QDND Cuối tuần SỰ KIỆN VÀ NHÂN CHỨNG
Ngày 11 tháng 3 năm 2009


Khi đọc tập sách “Nữ tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội-2006, chúng tôi chú ý tới 3 công trình của TS Chu Thị Thanh Tâm. Cả 3 đều có liên quan đến trình độ kiến thức và đạo đức trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học.

1. Công trình thứ nhất: Sách giáo trình “Đổi mới phương pháp dạy-học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam” - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội-2004. Đây là một công trình yếu kém toàn diện, đã được các bài báo mang tính khoa học và nhân đạo xã hội phân tích kỹ lưỡng.

Trong bài Thêm một công trình khoa học “kỳ khôi” (Thể thao-Văn hóa, 25-6-2005), tác giả Nguyễn Hòa viết: “Tôi quả quyết về sự “kỳ khôi” bởi theo tôi, bên cạnh việc “cóp nhặt” mang tính “đạo văn”, cuốn sách còn bộc lộ khá nhiều hạn chế về tri thức của tác giả và qua đó, họ đã góp phần “hạ giá” một khát vọng lành mạnh là ứng dụng công nghệ Multimedia (đa phương tiện truyền thông) vào công việc dạy-học”. Điểm qua một số phẩm chất “kỳ khôi” của cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy học môn cơ sở văn hóa Việt Nam” có thể thấy nó thiếu vắng quá nhiều phẩm chất khoa học. Rất tiếc, không rõ do bị “shock” trước thuật ngữ Multimedia hay do lòng ưu ái mà hai vị giáo sư viết bài “mở đầu” và “khóa đuôi” cho cuốn sách lại ban phát quá nhiều lời khen tặng… Trộm nghĩ, khi lời khen tặng được sử dụng phung phí như thế thì đến bao giờ khoa học nước nhà mới có cơ phát triển?”.

Trong bài Về công trình tác giả khoa học của một tiến sĩ (Giáo dục thời đại, chủ nhật, ngày 6-11-2005), tác giả Nguyễn Hà lại viết: “Về việc “đạo văn”, tác giả (TS Chu Thị Thanh Tâm) đã “thuổng” toàn bộ hệ thống “đề thi cơ sở văn hóa Việt Nam” với tính cách là sản phẩm khoa học độc lập, là tài sản tinh thần riêng của GS-TS Trần Ngọc Thêm để đưa vào cuốn sách mà không hề có một chú thích nào. Nếu có “sáng tạo” thì chỉ là ở chỗ đã “mông má” sắp xếp, đảo đi đảo lại một cách cẩu thả. Đặng làm sáng tỏ vấn đề, tôi đã liên lạc với GS-TS Trần Ngọc Thêm để xác minh và được ông xác nhận. Hiện tôi đã có bản scan của hệ thống câu hỏi. Tôi nghĩ GS-TS Trần Ngọc Thêm hoàn toàn có đủ cơ sở để kháng nghị việc TS Chu Thị Thanh Tâm “đạo văn” của ông. “Về nội dung, ứng dụng công nghệ Multimedia vào dạy-học là hết sức cần thiết, song sự ứng dụng sẽ chỉ có giá trị thực tế nếu người ứng dụng nắm bắt một cách thấu đáo bộ môn mình giảng dạy. Tiếc thay, tác giả không chỉ tỏ ra hời hợt, không có khả năng lựa chọn những đơn vị kiến thức tinh túy từ tác phẩm của người khác mà còn… “hơi liều”. Ngoài cụm từ Multimedia thì tri thức về công nghệ thông tin của TS Chu Thị Thanh Tâm cũng chưa vượt qua chương trình đào tạo “tin học văn phòng bằng A”. Tôi nhận ra họ “học lỏm” ở đâu đó nhiều hơn là những tri thức mà bản thân họ được trang bị một cách cơ bản. “Cuốn sách chứa đựng quá nhiều sự cẩu thả trong phương pháp, lập luận, kiến thức, văn phạm, văn bản…”.

Và trong bài Tiến sĩ viết sách vậy a? (Văn nghệ trẻ, 11-12-2005), một lần nữa, độc giả lại được thấy tác giả Trần Ngọc Hà phê phán: “Tên sách một đàng, nội dung một nẻo”, “những nhầm lẫn và sai sót “chết người” về kiến thức văn hóa”, “362 trang sách… là những cú “tung hỏa mù”, “sách rỗng ruột”, “100 trang phụ lục “độn” vào cho dày dặn… một số bài trong phụ lục tầm phào và phản khoa học đến khó lòng chấp nhận”, thậm chí lại kết luận rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh là một tôn giáo” (bài 14). Để kết luận bài báo, Trần Ngọc Hà viết: “Chúng tôi không thể nào hiểu nổi tại sao cuốn sách này lại qua mặt được nhiều nhà khoa học lão thành trong hội đồng thẩm định để nghiệm thu và cho xuất bản thành giáo trình? Chúng tôi cho rằng vẫn sẽ là chưa muộn nếu Đại học Quốc gia Hà Nội nghiêm túc xem xét lại việc lưu hành cuốn sách này”.

Ngoài ra, những yếu kém về mặt tin học và một số mặt khác trong cuốn sách cũng đã được TS Quách Tuấn Ngọc (Giám đốc trung tâm tin học Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu ra trên mạng internet, ví dụ: “Hiểu biết về công nghệ thông tin còn rất hạn chế”, “TS Tâm quá bị ám ảnh bởi thuật ngữ Multimedia nên cái gì cũng Multimedia”, “nhầm lẫn khái niệm Multimedia trong mạng và ngoài mạng (CD-ROM)”, “các hình ảnh copy vào bài giảng còn quá xấu về chất lượng”, “theo tôi, bài giảng này chưa thực sự đầy đủ, bao quát, sâu sắc… Phần cuối sách đúng là “độn” thêm nhiều nội dung linh tinh, chủ yếu là để khoe mình nhiều “công trình”. “Lời khuyên: TS Tâm nên lấy cái tâm là chính, hãy bỏ cái phần độn sách, độn 80 trang là phần thu hoạch của sinh viên, hãy bình tâm suy nghĩ viết lại, tập trung chủ yếu vào giáo trình văn hóa, công nghệ thông tin chỉ là sự thể hiện cách dạy, cách truyền đạt nội dung”.

Ngay sau khi có loạt bài báo trên về cuốn sách của TS Tâm, ban giám hiệu Trường đại học Ngoại ngữ (ĐHNN) - Đại học Quốc gia Hà Nội đã có văn bản (Phó hiệu trưởng Nguyễn Hòa ký tháng 12-2005) hồi âm báo chí về việc phủ định giáo trình này với tư cách là tài liệu tham khảo chính thức cho sinh viên học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam tại trường. Tuy nhiên, trên thực tế, TS Tâm vẫn là người quản lý và “lãnh đạo” môn Cơ sở văn hóa Việt Nam ở trường ĐHNN-Đại học Quốc gia Hà Nội. Tình hình này đã tạo ra sự bất ổn lớn về nhận thức và hành động trong nội bộ bộ môn Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Riêng với cuốn giáo trình Đổi mới phương pháp dạy-học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam bất chấp dư luận, nó vẫn được chủ nhân mang đi phát hành và dạy tại các cơ sở đào tạo khác. Như chúng tôi được biết, vào khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5-2007, cô Tâm vẫn sử dụng giáo trình này chính thức dạy cho sinh viên tại chức khóa 2 và 3 Trường đại học Kinh tế quốc dân.

2. Công trình thứ hai: Đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam”. Đề tài cấp Đại học quốc gia, mã số QN02.02 tháng 6-2004. Đây là đề tài đã được nghiệm thu năm 2004 đạt loại tốt. Song bạn đọc chắc chưa thể biết được rằng đề tài QN02.02 lại chính là cơ sở nội dung của cuốn sách Đổi mới phương pháp dạy-học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã nói ở trên. Như vậy, hai công trình này thực chất “tuy hai mà một”. Chỉ có điều, nếu Trường ĐHNN-Đại học Quốc gia Hà Nội đã có văn bản phủ định cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy-học…” thì có tiếp tục phủ định “mẹ đẻ” của nó là đề tài QN02.02 không?

3. Công trình thứ ba: Đề tài “Đối chiếu hành vi ngôn ngữ hỏi trong tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung trên hai góc độ cấu trúc và sử dụng”. Đề tài đặc biệt cấp ĐHQG, mã số QG05.41 tháng 4-2007, kinh phí 60 triệu đồng.

Trước hết, có thể khẳng định rằng: đề cương chi tiết của đề tài này đã bị bác bỏ, tên đề tài phải thay đổi lại. Đó là những kết luận của hội đồng trong buổi bảo vệ đề cương chi tiết của đề tài “Đối chiếu hành vi ngôn ngữ hỏi trong tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung trên hai góc độ cấu trúc và sử dụng” tại trường ĐHNN-Đại học Quốc gia Hà Nội. Chúng tôi được biết, đến tháng 5-2007, cán bộ theo dõi đề tài của Ban khoa học công nghệ Đại học Quốc gia Hà Nội vẫn chưa nhận được báo cáo của phòng Nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng trường ĐHNN-Đại học Quốc gia Hà Nội về kết luận như trên đối với đề tài QG05.41. Hơn nữa, trong danh mục trên trang web của Đại học Quốc gia Hà Nội cũng không thấy có tên của đề tài, phải chăng vì đề tài đã bị phủ định ngay từ lần bảo vệ đề cương chi tiết cách đây đúng một năm?.
Mấy lời kết luận-Những câu hỏi đặt ra

1. Với 3 công trình, 3 sự bê bối của cùng một tác giả-TS Chu Thị Thanh Tâm-không biết Trung tâm nghiên cứu phụ nữ Đại học Quốc gia có thấy sự xuất hiện của các công trình này trong một tập sách nghiêm túc và sang trọng là một việc làm coi thường dư luận xã hội, xúc phạm nặng nề đến đội ngũ nữ tiến sĩ Đại học Quốc gia hay không?

2. Việc giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học của các nữ trí thức là hoàn toàn cần thiết. Tuy nhiên, qua một sự việc rất nhỏ-sự việc chỉ như “con sâu bỏ rầu nồi canh” mà TS Chu Thị Thanh Tâm gây ra, chúng ta không thể không nghĩ đến bài học về sự thiếu trung thực, thiếu đạo đức trong công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Thiết nghĩ, nếu không ngăn chặn kịp thời các hành vi “tham nhũng khoa học” như trên thì rồi ra, con thuyền khoa học nước nhà sẽ trôi về đâu?

Đỗ Bá Lộc (nguyên Ủy viên-thư ký Hội đồng Ngữ học và Việt học,
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Email bài này In trang này In bài này Ý kiến của bạn
Các tin khác
Người già...làm thêm (22/06/2007)
Hè này đến Nha Trang (22/06/2007)
Mất dần hồng xiêm Xuân Đỉnh (22/06/2007)
“Đừng lấy chồng cho… quần chúng” (22/06/2007)
Ảnh báo chí em ạ! (22/06/2007)
Cô nhà báo của “con đường gốm sứ...” (22/06/2007)
Những lời tâm huyết với báo Quân đội nhân dân cuối tuần (22/06/2007)
Đồng đội “chấm” com (22/06/2007)
Tôn vinh cái tâm của những người tài (22/06/2007)
Kết thúc có hậu sau gần 20 năm của bài báo “Thủ tục để làm người còn sống”: Trần Quyết Định đã có... quyết định! (21/06/2007)
Bác sĩ của chính mình (14/06/2007)
Nơi dành cho lòng thanh thản (14/06/2007)
Người cao tuổi-sống mạnh khỏe, mẫu mực (14/06/2007)
Tai họa vẫn đang rình rập (14/06/2007)
Những chiếc bếp kỳ diệu (14/06/2007)

TIÊU ĐIỂM
Khi nhà vô địch thế giới... "tủi thân"
Bên dòng Hiền Lương
ĐBSCL: Giá lúa gạo buớc sang giai đoạn khải hoàn
Cậu bé "Nô-ben môi trường"
Chàng lính trẻ và những chú chim
Đôi bạn cùng "xóa nghèo" và "lập sĩ"
Sáng-tối đan xen
“Vừa đi trên phố Hà Nội, vừa suy nghĩ”
Vắng bóng đồ chơi dân gian
"Không chỉ do giáo trình mà còn do người dạy, cách dạy…"
Giấy phép số: 545/GP-BVHTT 10 - 12 - 2002
Tổng biên tập: Thiếu tướng LÊ PHÚC NGUYÊN
Phó tổng biên tập: Đại tá HỒ ANH THẮNG, Đại tá PHẠM VĂN HUẤN

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI SAI NHƯNG KHÔNG DÁM NHẬN LỖI TRÊN BÁO CHÍ !

Đại học Quốc gia Hà Nội sai là hiển nhiên rồi. Vì sao không xử lý?

Đai học này đã dối trá nhân dân vì có những hành vi sau:
1. Cho xuất bản cuốn " Nữ tiến sĩ Đại học Quốc Gia Hà Nội"
2. Bảo kê các đề tài khoa học yếu kém, khai khống và phản giáo dục.
3. Chấp nhận tiến sĩ bị kỷ luật - đi buôn quần áo, dày dép ở Liên xô hàng chục năm về nước để dạy bừa môn Cơ sở văn hóa Việt Nam.
3. Không kỷ luât Chu Thị Thanh Tâm vi pham quy chế đào tạo mà để cho cô này học bổng đi Hàn Quốc -làm ô danh đát nước, ô danh khoa học.

Phu huynh đã kêu đến Ban tuyên giáo ra tay giải quyết các vụ việc nêu trên.

Xin đừng để vụ việc Chu Thị Thanh Tâm và Nguyễn Văn Hằng còn đó, còn là đám mây đen trên bầu trời khoa học và giáo dục nước Việt.

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2009

BÀI BÁO PHẢN ÁNH TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN & NHÂN ĐẠO KHOA HỌC

"Baì báo của nhà giáo Đỗ Bá Lộc đăng trên "Quân đội nhân dân cuối tuần" - có nội dung nhân văn và nhân đạo khoa học sâu sắc
Chúng tôi xin thông báo để các bạn biết về vụ việc bê bối QN.02.02 và QG.05.41 đến nay vẫn chưa kết thúc. Chúng tôi sẽ lần lượt cung cấp thông tin để các bạn biết cho đến khi các vấn đề của QN.02.02 và QG.05.41 cấp ĐHQGHN phải được xử lý bằng văn bản. Các cá nhân sau đây phải chịu trách nhiệm trước công lý khoa học và đạo đức khoa học -đạo đức quản lý:
1. ông Vũ Minh Giang
2. ông Trần Hữu Luyến
3. ông Nguyễn Văn Lợi
4. ông Hoàng Trọng Phiến
5. Chu Thị Thanh Tâm.
Sau đây là thông tin trích từ bạn đọc. "Baì báo của nhà giáo Đỗ Bá Lộc đăng trên "Quân đội nhân dân cuối tuần" - ngày 01/7/2007 có nội dung nhân văn và nhân đạo khoa học sâu sắc vì nó đã cho mọi người biết một sự thật dối trá và yếu kém trong NCKH và quản lý khoa học ở ĐHQGHN. Sức manh của bài báo được chứng minh bởi sự im lặng- lẩn trốn của những vị có trách nhiệm ở Đại học Quốc gia Hà Nội, bởi hành vi chống lại sự thật của ông Vũ Minh Giang, bởi tư duy bảo kê các đề tài yếu kém và quan hệ mang tính cá nhân của ông Vũ Minh Giang (một người không xứng đáng làm công tác quản lý ở cấp ĐHQGHN) Chúng tôi xin cảm ơn tác giả báo chí Đỗ Bá Lộc vì qua bài báo của ông, chúng tôi biết được sự thật quản lý khoa học và nghiên cứu khoa học qua vụ việc QN.02.02 và QG.05.41 Bạn đọc"