The 2009 LSA Fellows will be recognized, and the Linguistics, Language and the Public Award and Leonard Bloomfield Book Award presented, at the January 9 Business Meeting of the LSA.
Discourse Analysis
Deborah Tannen
Discourse analysis is sometimes defined as the analysis of language 'beyond the sentence'. This contrasts with types of analysis more typical of modern linguistics, which are chiefly concerned with the study of grammar: the study of smaller bits of language, such as sounds (phonetics and phonology), parts of words (morphology), meaning (semantics), and the order of words in sentences (syntax). Discourse analysts study larger chunks of language as they flow together.
Some discourse analysts consider the larger discourse context in order to understand how it affects the meaning of the sentence. For example, Charles Fillmore points out that two sentences taken together as a single discourse can have meanings different from each one taken separately. To illustrate, he asks you to imagine two independent signs at a swimming pool: "Please use the toilet, not the pool," says one. The other announces, "Pool for members only." If you regard each sign independently, they seem quite reasonable. But taking them together as a single discourse makes you go back and revise your interpretation of the first sentence after you've read the second.
Discourse and Frames
'Reframing' is a way to talk about going back and re-interpreting the meaning of the first sentence. Frame analysis is a type of discourse analysis that asks, What activity are speakers engaged in when they say this? What do they think they are doing by talking in this way at this time? Consider how hard it is to make sense of what you are hearing or reading if you don't know who's talking or what the general topic is. When you read a newspaper, you need to know whether you are reading a news story, an editorial, or an advertisement in order to properly interpret the text you are reading. Years ago, when Orson Welles' radio play "The War of the Worlds" was broadcast, some listeners who tuned in late panicked, thinking they were hearing the actual end of the world. They mistook the frame for news instead of drama.
Turn-taking
Conversation is an enterprise in which one person speaks, and another listens. Discourse analysts who study conversation note that speakers have systems for determining when one person's turn is over and the next person's turn begins. This exchange of turns or 'floors' is signaled by such linguistic means as intonation, pausing, and phrasing. Some people await a clear pause before beginning to speak, but others assume that 'winding down' is an invitation to someone else to take the floor. When speakers have different assumptions about how turn exchanges are signaled, they may inadvertently interrupt or feel interrupted. On the other hand, speakers also frequently take the floor even though they know the other speaker has not invited them to do so.
Listenership too may be signaled in different ways. Some people expect frequent nodding as well as listener feedback such as 'mhm', 'uhuh', and 'yeah'. Less of this than you expect can create the impression that someone is not listening; more than you expect can give the impression that you are being rushed along. For some, eye contact is expected nearly continually; for others, it should only be intermittent. The type of listener response you get can change how you speak: If someone seems uninterested or uncomprehending (whether or not they truly are), you may slow down, repeat, or overexplain, giving the impression you are 'talking down.' Frederick Erickson has shown that this can occur in conversations between black and white speakers, because of different habits with regard to showing listenership.
Discourse Markers
'Discourse markers' is the term linguists give to the little words like 'well', 'oh', 'but', and 'and' that break our speech up into parts and show the relation between parts. 'Oh' prepares the hearer for a surprising or just-remembered item, and 'but' indicates that sentence to follow is in opposition to the one before. However, these markers don't necessarily mean what the dictionary says they mean. Some people use 'and' just to start a new thought, and some people put 'but' at the end of their sentences, as a way of trailing off gently. Realizing that these words can function as discourse markers is important to prevent the frustration that can be experienced if you expect every word to have its dictionary meaning every time it's used.
Speech Acts
Speech act analysis asks not what form the utterance takes but what it does. Saying "I now pronounce you man and wife" enacts a marriage. Studying speech acts such as complimenting allows discourse analysts to ask what counts as a compliment, who gives compliments to whom, and what other function they can serve. For example, linguists have observed that women are more likely both to give compliments and to get them. There are also cultural differences; in India, politeness requires that if someone compliments one of your possessions, you should offer to give the item as a gift, so complimenting can be a way of asking for things. An Indian woman who had just met her son's American wife was shocked to hear her new daughter-in-law praise her beautiful saris. She commented, "What kind of girl did he marry? She wants everything!" By comparing how people in different cultures use language, discourse analysts hope to make a contribution to improving cross-cultural understandi
Thứ Tư, 17 tháng 12, 2008
Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2008
CDA về sự nghiên cứu Việt Nam học
"Đến nay, chuyên gia về Việt Nam học ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều" là nhận xét của GS TSKH Vũ Minh Giang, phó giám đốc ĐHQG Hà Nội. Theo ông, việc thiếu những chuyên gia trình độ vững vàng đã khiến việc đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học về Việt Nam học của ta lúng túng.
KẾT NỐI:
CDA cho rằng ý kiến của ông Vũ Minh Giang là có cơ sở vì:
1. Ở Việt Nam, những người giỏi về Việt Nam học là các nhà chính tri, các nhà ngoại giao, các nhà báo, các nhà giáo - các nhà chuyên môn sâu có cuộc đời và tâm huyết gắn liền với Việt Nam và am hiểu thế giới bên ngoài.
2. Các vi có học hàm , học vị chưa hẳn đã giỏi về Việt Nam học. Có vị lấy danh là giáo sư sử học, là tiến sĩ khoa về lịch sử để hoạt động về những lĩnh vực Việt Nam học. Về trình độ khảo sát và tầm khái quát và hành sự trong nghiên cứu Việt Nam học có thể vị ấy không bằng các vị làm chuyên môn sâu về Việt Nam học (không học thầy vì không có thầy chuyên về lĩnh vực này: nên không là tiến sĩ)
Người thầy về Việt Nam học chính là nhân dân, là môi trường tự nhiên Việt Nam và môi trường văn hóa Việt Nam, môi trường văn minh thế giới.
3. Chúng ta không có tiến sĩ, giáo sư chuyên về Việt Nam học. Thực tế khi nghiên cứu về Việt Nam học có nhiều giáo sư tiến sĩ ngoại đạo tham gia nghiên cứu. Các giáo sư, tiến sĩ như vây cũng chỉ bình đẳng với người nghiên cứu không có học hàm, học vị.
CDA gợi ý:
1. Nên tổ chức thi Tiến sĩ tự do về Việt Nam học - gọi là Tiến sĩ nhà nước (Trong truyền thống Văn hóa giáo dục Viet Nam, thời phong kiến không có đào tạo tiến sĩ, các sĩ tử tự đi thi, nếu giỏi thì đỗ tiến sĩ).
Vậy theo truyền thống, các nhà lãnh đạo, các nhà báo, các nhà văn, các nhà giáo có thể tự viết luận án (không cần đến người hướng dẫn) về Việt Nam học và đề nghị được bảo vệ: nếu thành công được nhận học vị tiến si nhà nước ( ngược lại, nếu muốn thành tiến sĩ đại hoc thì: phải học ở cơ sở đào tạo, phải đóng tiền học, phải có người hường dẫn, nhìn chung nếu không tiền thì không thể trở thành tiến sĩ).
2. Nhìn nhận và đánh giá các công trình về Việt Nam học không nên dựa vào học vị, học hàm, chỉ nên dựa vào chất lượng công trình.
3. Khi giảng dạy về Việt Nam học (hoặc văn hóa Việt Nam), các cơ sở Đại học không cần trả giảng phí theo học vị Tiến sĩ vì chắc chắn là: chúng ta chưa có tiến sĩ Việt Nam học, vậy nên trả giảng phí theo các đối tượng:
(1). Giảng viên cao tuổi có kinh nghiệm trong ngành giáo dục & thành thạo công nghệ cao trong giảng day
(2). Giảng viên có sách hoặc tài liệu tự nghiên cứu về Việt Nam học phù hợp với chương trình đào tạo
(3). Giảng viên có giáo trình và giáo án soạn theo nền tảng IT.
(4). Không mời tiến sĩ đạo văn, tiến sĩ yếu kém được bảo kê làm giảng viên đại học.
CDA chờ đợi:
Ý kiến của Quý vị.
Cám ơn
===== ghi chú: CDA (Critical Discourse Analysis)
KẾT NỐI:
CDA cho rằng ý kiến của ông Vũ Minh Giang là có cơ sở vì:
1. Ở Việt Nam, những người giỏi về Việt Nam học là các nhà chính tri, các nhà ngoại giao, các nhà báo, các nhà giáo - các nhà chuyên môn sâu có cuộc đời và tâm huyết gắn liền với Việt Nam và am hiểu thế giới bên ngoài.
2. Các vi có học hàm , học vị chưa hẳn đã giỏi về Việt Nam học. Có vị lấy danh là giáo sư sử học, là tiến sĩ khoa về lịch sử để hoạt động về những lĩnh vực Việt Nam học. Về trình độ khảo sát và tầm khái quát và hành sự trong nghiên cứu Việt Nam học có thể vị ấy không bằng các vị làm chuyên môn sâu về Việt Nam học (không học thầy vì không có thầy chuyên về lĩnh vực này: nên không là tiến sĩ)
Người thầy về Việt Nam học chính là nhân dân, là môi trường tự nhiên Việt Nam và môi trường văn hóa Việt Nam, môi trường văn minh thế giới.
3. Chúng ta không có tiến sĩ, giáo sư chuyên về Việt Nam học. Thực tế khi nghiên cứu về Việt Nam học có nhiều giáo sư tiến sĩ ngoại đạo tham gia nghiên cứu. Các giáo sư, tiến sĩ như vây cũng chỉ bình đẳng với người nghiên cứu không có học hàm, học vị.
CDA gợi ý:
1. Nên tổ chức thi Tiến sĩ tự do về Việt Nam học - gọi là Tiến sĩ nhà nước (Trong truyền thống Văn hóa giáo dục Viet Nam, thời phong kiến không có đào tạo tiến sĩ, các sĩ tử tự đi thi, nếu giỏi thì đỗ tiến sĩ).
Vậy theo truyền thống, các nhà lãnh đạo, các nhà báo, các nhà văn, các nhà giáo có thể tự viết luận án (không cần đến người hướng dẫn) về Việt Nam học và đề nghị được bảo vệ: nếu thành công được nhận học vị tiến si nhà nước ( ngược lại, nếu muốn thành tiến sĩ đại hoc thì: phải học ở cơ sở đào tạo, phải đóng tiền học, phải có người hường dẫn, nhìn chung nếu không tiền thì không thể trở thành tiến sĩ).
2. Nhìn nhận và đánh giá các công trình về Việt Nam học không nên dựa vào học vị, học hàm, chỉ nên dựa vào chất lượng công trình.
3. Khi giảng dạy về Việt Nam học (hoặc văn hóa Việt Nam), các cơ sở Đại học không cần trả giảng phí theo học vị Tiến sĩ vì chắc chắn là: chúng ta chưa có tiến sĩ Việt Nam học, vậy nên trả giảng phí theo các đối tượng:
(1). Giảng viên cao tuổi có kinh nghiệm trong ngành giáo dục & thành thạo công nghệ cao trong giảng day
(2). Giảng viên có sách hoặc tài liệu tự nghiên cứu về Việt Nam học phù hợp với chương trình đào tạo
(3). Giảng viên có giáo trình và giáo án soạn theo nền tảng IT.
(4). Không mời tiến sĩ đạo văn, tiến sĩ yếu kém được bảo kê làm giảng viên đại học.
CDA chờ đợi:
Ý kiến của Quý vị.
Cám ơn
===== ghi chú: CDA (Critical Discourse Analysis)
Thứ Ba, 2 tháng 12, 2008
Cơ sở của Văn hóa Việt Nam
1. Cơ sở lý luận
2. Cơ sở lich sử
3. Cơ sở dịa lý & Đất nước
4. Cơ sở sáng tạo & Giao tiếp
BQ
Chúng tôi thấy cần phải đưa thêm cơ sở về não trong việc nghiên cứu van hóa Việt Nam
vannet (nhận và thông báo)
2. Cơ sở lich sử
3. Cơ sở dịa lý & Đất nước
4. Cơ sở sáng tạo & Giao tiếp
BQ
Chúng tôi thấy cần phải đưa thêm cơ sở về não trong việc nghiên cứu van hóa Việt Nam
vannet (nhận và thông báo)
Một số vấn đề lý luận văn hóa
1. Cần phân biệt hoạt động sáng tạo, phát minh của các dân tộc Việt Nam trong môi trường tự nhiên và môi trường xã hội với văn hóa , ví dụ:
+ Giáo dục và Văn hóa giáo dục
+ Kiến trúc và Văn hóa kiến trúc
2. Đặc tính nguồn gốc của một Biểu hiện văn hóa
3. Hoạt động bản địa và Hoạt động nhập ngoại trong một nền văn hóa
4. Phủ định Hoạt động bản địa bằng cách lấy Hoạt động nhập ngoại làm nguồn gốc cho hoạt động bản địa
5. Lấy Biểu hiện văn hóa để phủ định Sáng tạo văn hóa của Danh nhân văn hóa
6. Động cơ cá nhân trong việc nghiên cứu Biểu hiện văn hóa
7. Quyền năng nghiên cứu và kết luận về một Biểu hiện văn hóa
8. Quyền năng nghiên cứu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân và sự đánh giá của quyền năng nghiên cứu trong cộng đồng xã hội về Biểu hiện văn hóa
9. Xử lý những sai lầm trong nghiên cứu về Biểu hiện văn hóa
10.Các yếu tố xác định Biểu hiện văn hóa cùng chung cội nguồn
11.Diễn trình văn hóa của một nền văn hóa có sự xâm lược và áp đặt
12.Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
13.Tư tưởng Hồ Chí Minh về phân loại các nền giáo dục trong văn hóa giáo dục ở Việt Nam.
CDA (Bản quyền)
...............................................
+ Giáo dục và Văn hóa giáo dục
+ Kiến trúc và Văn hóa kiến trúc
2. Đặc tính nguồn gốc của một Biểu hiện văn hóa
3. Hoạt động bản địa và Hoạt động nhập ngoại trong một nền văn hóa
4. Phủ định Hoạt động bản địa bằng cách lấy Hoạt động nhập ngoại làm nguồn gốc cho hoạt động bản địa
5. Lấy Biểu hiện văn hóa để phủ định Sáng tạo văn hóa của Danh nhân văn hóa
6. Động cơ cá nhân trong việc nghiên cứu Biểu hiện văn hóa
7. Quyền năng nghiên cứu và kết luận về một Biểu hiện văn hóa
8. Quyền năng nghiên cứu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân và sự đánh giá của quyền năng nghiên cứu trong cộng đồng xã hội về Biểu hiện văn hóa
9. Xử lý những sai lầm trong nghiên cứu về Biểu hiện văn hóa
10.Các yếu tố xác định Biểu hiện văn hóa cùng chung cội nguồn
11.Diễn trình văn hóa của một nền văn hóa có sự xâm lược và áp đặt
12.Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
13.Tư tưởng Hồ Chí Minh về phân loại các nền giáo dục trong văn hóa giáo dục ở Việt Nam.
CDA (Bản quyền)
...............................................
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

